Canvas 36" x 48"
(May 2014) - SOLD
Một cõi riêng để ghi laị những gì yêu thích, đam mê, sáng tác, suy tư... mà tôi đã đeo đuổi bao năm qua. Một cõi riêng của chính mình với những suy nghĩ, nguồn cảm hứng, giây phút lắng đọng trong những ngày tháng bình yên an lành. Thực hiện Blog không vì tham vọng hay để ca tụng, chỉ cần những người bạn cảm thông và chia sẻ những nỗi niềm trong đời.
Friday, June 27, 2014
Thursday, June 26, 2014
Mưa Lũ Trong Đời
Bà Sáu ngồi trên cái chõng tre
ngoài sân nhà, lặt rau mồng tơi để chuẩn bị nấu canh cho bữa cơm chiều. Mắt bà
cứ đảo nhìn lên cây vú sữa và cây khế bên cạnh, kiếm đứa cháu nuôi là Tiến đang
phá phách trên cây. Bà sống đơn độc không chồng con, cha mẹ mất đi để lại cho
bà một mảnh vườn, căn nhà nhỏ, một cây vú sữa to lớn và một cây khế ngọt. Cả
hai trồng sát nhau nhưng cây vú sữa lớn gấp hai cây khế. Tuổi đời bà cũng tròm
trèm tuổi cây vú sữa và mùa trái khế đầu tiên vào lúc bà chớm tuổi dậy thì. Mấy
mươi năm nay hai cây đều sai trái bốn mùa, đây cũng là nguồn lợi tức sinh nhai
của hai bà cháu. Bà tự an ủi cho đây là tài sản quý giá của mẹ để lại.
Tiến ngồi trên cây khế ngọt rồi
leo sang cây vú sữa, hái những trái chín ăn ngon lành. Bất ngờ một vỏ rơi xuống
trước mặt bà Sáu giật nẩy người nhìn lên thấy bóng người nhẩy trốn trong nhánh
cây rậm rạp. Nhìn vỏ vú sữa và từng cành hoa khế trắng tím rụng rải rác trên mặt
đất. Bà Sáu giận dữ la lớn.
- Trời đất ơi! Thằng nhóc nghịch
qúa chừng, chịu không nổi được nữa! Tiến ơi, xuống đi nghe, không thôi lại
ngang bụng không ăn cơm được tối nay đó nghen.
Bà leo xuống giường, cầm chổi
quét gọn các cùi vỏ vú sữa và hoa khế lênh láng trên mặt đất. Bà bực mình vì Tiến
vừa ăn vừa bỏ phí phạm, dẫu bà không tiếc của thì bà cũng sợ mang tội với phước
phần của trời cho. Bà quét dọn mỏi cả lưng, đảo mắt nhìn lên vẫn không nghe thấy
nó đâu trên cây. Bà lẩm bẩm than vãn một mình.
- Lũ chim sẻ phá cây trái cũng
chưa bằng thằng nhóc tì này. Nó khùng rồi chắc, ngày nào cũng ăn trái cây thay
cơm. Người cao nhòng ốm trơ xương, mà sao khỏe chơi qúa.
Bà bỏ đi ra lu nước cạnh giếng rửa
mặt. Vừa lom khom vắt cái khăn chưa kịp lau, bà thấy một bóng thấp thoáng chạy
vụt nhanh vào trong nhà. Tiếng cánh cửa dộng vào tường nhà kêu cái rầm làm bà
nhảy dựng người. Bà đi nhanh vào trong, thấy Tiến đang ngồi bệt mặt mày nhăn
nhó ôm cái chân dính máu me.
- Bị sao vậy? Bà hoảng hốt la
lên.
- Con chạy sơ ý đụng vào cánh cửa
đó. Con không có sao hết. Bà tha lỗi cho con.
Nhìn vào cái chân bà xuýt xoa nói.
- Qủy thần đất ơi, chân tay như thế này mà nói không sao hết! Đi đứng cứ
như chạy giặc cho lòi cái móng chân ra.
Móng chân cái của Tiến đã bong ra gần hết. Một vết cắt dài từ mắc cá lên tới
ống chân lòi thịt trắng bóc. Bà cho Tiến nằm dài dưới sàn gạch đỏ, kéo cái ghế
đòn để gát cái chân, sẵn cái khăn trên tay bà vội vàng quấn vào chân để cầm
máu. Sau đó bà dặn dò thằng cháu nằm yên nghỉ ngơi đợi bà về. Bà cầm cái nón
lên tay vội chạy qua hai nhà hàng xóm để cầu cứu nhưng không gặp được ai. Bà
luýnh quýnh chạy hớt hải băng ra ngoài đầu ngõ đón chiếc xe thồ đi mời anh y tá
Bảnh về băng bó vết thương. Chẳng may anh y tá đi lên tỉnh chưa về. Cuối cùng
bà đành chạy ra chợ mua vài trái cà pháo và túi hột mồng cỏ, dùng lối chữa trị
dân truyền để đắp chân cho cháu. Ngồi trên chiếc xe thồ, bà thở hổn hển vì mệt
nhưng bà sung sướng vì còn được chăm lo đứa cháu nuôi vào tuổi già xế bóng.
Khi xe về đến, cửa nhà trước sau để trống trơn. Bà kiếm không thấy thằng Tiến
đâu hết. Bà chạy ra sau chỉ thấy chiếc khăn đẫm máu ở bên cạnh cái thau nước
còn mùi tanh. Bà Sáu chống nạnh kêu lên inh ỏi, mắt đảo quanh tìm kiếm nó nhưng
cũng không thấy. Chị Bông đứng sát hàng dậu cạnh sân nhà lên tiếng.
- Bà Sáu ơi! Mấy tụi nhỏ đi tắm sông rồi.
- Thằng nhóc này nghịch trời thần đất lở thiệt đó mà. Mới bị cắt đứt cổ
chân bứt móng chân cái mà dám đi tắm sông.
- Bà có cần con chạy ra bờ sông kêu tụi nó về. Thằng Minh nhà con cũng đi tắm
sông với nó đó. Chị Bông trả lời với bà.
- Í thôi mặc kệ nó! Thôi nó đi chơi với thằng Minh cũng được. Thằng Tiến
nhà này nó quậy qúa, nó không sợ cái gì trên đời. Bà sợ là không nuôi nó nổi,
ngày nào bà cũng lo muốn đứng tim…
Than vãn một hồi chẳng thấy chị Bông trả lời, bà lẩm bẩm đi vào nhà một
mình.
Tiến vốn kém thông minh chẳng học hành, nhưng làm việc tháo vát nhanh nhẹn
và tính tình mộc mạc. Giữa bà và đứa cháu nuôi có nhiều khác biệt về tuổi tác,
cá tính và suy nghĩ. Đôi lúc bà chỉ biết lẩm bẩm độc thoại một mình cho vơi cơn
buồn giận và nỗi sầu cô độc. Ròng rã bao nhiêu năm trôi qua, bà dường như đã
quen cái tính liều mạng và nghịch ngầm của thằng cháu. Bà vẫn thương yêu Tiến
như là ruột thịt, chẳng bao giờ lớn tiếng la rầy, lúc buồn bực chỉ mắng yêu nó
là ‘thằng nhóc’. Tiến không bao giờ dám ngỗ nghịch hỗn láo, luôn lễ phép và
kính nể bà. Lúc bị rầy la thì nó ngồi im lặng nghe, miệng dạ thưa hứa hẹn lia lịa,
nhưng năm mười phút sau quên ngay. Nó thích đó rồi chán đó ngay, thích hoạt động
táo bạo, thích tham gia trò chơi cực kỳ mạo hiểm, không bao giờ ngồi yên được
hơn một tiếng đồng hồ.
Bà lững thững đi ra ngoài nằm trên cái võng. Nhìn những trái vú sữa xanh
tím nặng trĩu cành, giống như vú mẹ căng tròn đang thèm nhớ con. Bà nghĩ miên
man về cái thằng cháu họ nuôi, về những thói quen hằng ngày của bà như là ra
vào lo lắng, đi tìm kiếm và ngồi chờ hằng giờ. Đôi lúc bà cũng mệt mỏi muốn bỏ
cuộc, muốn gửi trả đứa cháu về với gia đình nhưng bà không thể làm được. Nắng
chiều bỗng diụ lại, gió thổi mát lồng lộng bên ngoài, bà kéo khắn choàng đầu,
nhắm mắt suy tư.
Ở trên chiếc cầu gỗ nhỏ bắt qua một dòng sông hẹp, mấy đứa nhỏ xếp hàng nhảy
lủm bủm xuống nước làm khuấy động bùn ở đáy lòng sông trở nên đục ngàu. Tắm và
chơi nghịch ở con sông này đã nhiều, tụi nhỏ cũng không còn để ý đến nước trong
hay bùn sình. Cả đám thách thức thi nhau nhảy phóng xuống sông, cãi nhau chí
chóe giành giựt ngôi thứ, đôi lúc đùa giỡn với nhau khá thô bạo. Chúng nó chạy
rần rật từ bờ sông lên tới thành cầu, cười nhộn nhịp say sưa quên bẵng sinh hoạt
của mọi người chung quanh; còn Tiến mải chơi chẳng lên tiếng than chân đau. Quần
áo đứa nào cũng đổi thành màu đất, áo ướt sũng dính nhăn nhúm vào người. Có đứa
quần tuột xệ dưới rún, có đứa cởi trần phơi áo treo trên cành cây. Mặt mày đưá
nào cũng xám xì miệng môi tím ngắt, thế mà lũ nhỏ không thấy lạnh vẫn vui chơi
thỏa thích.
Từ đằng xa bóng nắng biến mất dần sau làn mây đen kéo tới xám ngắt. Gió bắt
đầu thổi mạnh đong đưa cây lá sột xoạt rơi lả tả trên sông. Mùi hơi đất càng
xông nồng nực. Dưới chân cầu một người đàn bà ngồi giặt quần áo lật đật thu xếp
đi về. Một người đàn bà bên kia bờ sông đang rướn người cuốn mùng chiếu lại và
thu nhặt quần áo đang treo phơi. Mặt cầu bị ướt trơn trợt, vài người dắt chiếc
xe đạp qua cầu chậm chạp, vài người hàng gánh uể oải nặng bước về nhà. Khung cảnh
chung quanh càng lúc càng vắng vẻ. Gió lốc từng cơn mạnh mẽ làm lũ chim kêu chí
chóe bay ra từng đàn từ các lùm cây rậm rạp. Vài con chó cong đuôi, đưa mõm ngửi
hàng giậu rồi gác cẳng phóng uế thoải mái truớc khi chạy đi tránh mưa. Chỉ có
vài phút sau đó, mưa đổ ào xuống mặt sông nổi thành bong bóng thật lớn, đến một
lúc không còn nghe tiếng mưa rơi mà chỉ nghe dòng nước lũ trên sông chảy siết.
Mưa đổ xuống bất ngờ trong lúc lũ nhỏ đang vui đùa, chúng càng khoái chí được
thưởng thức tắm mưa bên dòng sông. Có đứa ngửa mặt há miệng để hứng nước mưa,
có đưá dậm chân nhảy theo nhịp mưa, có đứa bơi ngược dòng sông đang chảy thật
siết, có đứa đu lên cầu làm tặc-răn đánh đu rơi xuống nước. Chúng quên mất những
hiểm nguy bất ngờ có thể xảy ra và quên đi gia đình đang lo lắng mong đợi.
Khi mưa càng lớn không ai đi qua cầu, không bị ai rầy la, tụi nhỏ càng nghịch
ngợm táo bạo. Năm đứa trèo lên đứng xếp hàng dài trên chiếc cầu gỗ trơn trượt –
Họat, Minh, Tiến, Trự và Học. Cả năm đứng ôm nhau nhún nhịp trên cầu, khoái chí
nghe tiếng kêu cút kít của cái chân cầu bằng gỗ, rồi ôm nhau cùng nhảy xuống
dòng nước đang chảy siết. Chúng chơi lập đi lập lại. Bỗng đất vỡ làm một chân cầu
sụp đổ. Thằng Hoạt và Minh mất thăng bằng rơi tỏm xuống sông, ba đứa còn lại chụp
được vào thành cầu. Cả đám kêu cầu cứu với nhau nhưng tiếng mưa gió quá mạnh lấn
át tiếng kêu réo. Chúng nó chỉ thấy Hoạt và Minh ngụp lặn vài lần rồi không còn
thấy bóng dáng trong mưa. Tiến chạy nhanh dọc theo dòng sông, quan sát thật kỹ
trên dòng nuớc. Những cành cây nhỏ quất vào vết thương trên chân, nó thốn đau
nhảy cà nhắc nhấp nhỏm rồi gượng chạy tiếp để cứu bạn. Mưa càng lúc càng nặng hạt
làm bong bóng nổi đầy mặt sông khó mà nhận ra dấu hiệu của mấy thằng bạn, Tiến
đưa tay vuốt mặt liên tục, mắt cố quan sát và chân tiếp tục chạy. Trong lúc đó,
Trự và Học chạy theo bên kia bờ sông quan sát cùng với Tiến, chụp đại cái lưới
đánh cá chạy xa hơn Tiến xuống cuối dòng ngồi trên một cái cầu ván nhỏ thả lưới
ngồi chờ.
Bỗng Tiến thấy một cái tay quơ lên mặt nước, hắn cởi cái áo cầm trong tay rồi
phóng xuống sông. Trong lúc nó đưa mắt tìm kiếm, chẳng biết có đứa nào chụp được
cái áo, nhưng dòng nước lũ chảy siết giựt ngược đẩy nó xoay một vòng đập người
vào bờ. Nó chụp lấy một cái rễ cây cố đứng yên trong lúc đó sóng nước đập liên
tục vào mặt. Tiến lấy bình tĩnh, ôm chặt những rễ cây ven sông, giựt ngược cái
áo kéo bạn vào sát người. Lúc bấy giờ nó nhận ra thằng Minh mặt mày tím ngắt,
hai tay yếu ớt cuốn tròn vào tay áo cố ôm lấy bạn và bám vào thân cây khô ở ven
sông để nghỉ. Sức đẩy của dòng nước và sức nặng của hai đứa làm cành cây bị
gãy, cả hai bị đẩy đi theo dòng một quãng xa. Tiến nghe tiếng kêu của thằng Học,
nó cố kiềm giữ lấy bạn đồng thời định hướng của tiếng la hét; may mắn nắm được
cái lưới đánh cá của thằng Học đang quấn vào thân cây lớn. Cả đám phụ nhau hì hục
kéo đưa thằng Minh lên cái cầu ván nhỏ.
Thằng Minh nằm bất động chưa hoàn hồn. Tiến cùng lũ bạn kéo Minh lên đè ra
xốc nước ọc ói ra mật xanh mật vàng. Mắt hắn mở lớn, vùng chạy hớt hãi thất
kinh trên bờ. Ba đứa nằm dài ra cái sàn ôm nhau cười sung sướng. Minh ngồi bệt
xuống đất ghì đôi vai run bắn lên vì lạnh, đảo mắt đỏ khè không thần sắc liếc
xung quanh tìm thằng Họat. Nó sợ ma da kéo thằng bạn đi mất.
Trời đã sẫm tối, mưa ngớt dần, dòng sông nước lũ dâng cao chạy mạnh. Tiếng ễnh
ương bắt đầu kêu rền dọc bờ sông trơn trượt. Tiến bám vào ven sông chạy ngược để
đi lên tìm thằng Hoạt. Cả ba đứa vội vàng chạy theo phụ thằng Tiến. Chúng ôm
cái lưới đánh cá rối bời chạy ngược về hướng chiếc cầu gẫy. Thằng Minh cứ bị ám
ảnh bị xém chết trên sông, cứ té lăn cù trên đường mòn ướt sũng ven sông. Lúc cả
đám đi tới thấy Tiến và Hoạt nằm dài ôm nhau cười sung sướng trên sàn cầu đã mấp
máy nước. Năm đứa hoàn hồn, mới biết ra thằng Hoạt lặn thật sâu bơi ngược về
chân cầu, rồi bám chân cầu leo lên sàn. Khi mực nước dâng cao, Hoạt vội leo lên
cây để trốn thoát và quan sát tìm kiếm ra Tiến. Cặp đầu gối Minh còn run cầm cập
đưa mắt nhìn láo liên. Nó thấy Tiến khó khăn cử động bàn chân, mới sực nhớ thằng
bạn bị thương lúc chiều. Mấy đứa bu tới nhìn suýt xoa cái chân đau đã bị mưng độc
của Tiến. Chúng bắt tay làm kiệu khệ nệ khiêng thằng bạn về như chiêu đãi anh
hùng đã không sợ hiểm nguy cứu bạn. Năm đứa đi dưới mưa hát la rầm rộ; chẳng
trách cả xóm đặt chúng là ‘Ngũ Qủy’. Cả lũ đều đồng ý sáng sớm ngày mai trở lại
đây sửa lại cái chân cầu. Chúng tiếp tục cười đùa hồn nhiên trong mưa chiều xám
đen hoàng hôn.
Trời tối xầm. Gió thổi lành lạnh tạo nên không gian ghê rợn. Gần về đến
nhà, Tiến cảm thấy một điều gì không ổn, từ hàng dậu nó nhìn thấy chòm cây vú sữa
bị thưa thớt. Nó buông tay nhảy xuống kiệu không cần từ giã mấy thằng bạn, chạy
cà thọt vào nhà. Nó nhìn thấy cây khế bị những nhánh cây vú sữa đè nặng làm gẫy
nát thành nhiều khúc. Những nhành cây gãy vụn chồng chất và những chiếc lá già
rụng trải đầy cả sân. Nó nhìn không gian điêu tàn tĩnh mịch mờ tỏ trong ánh đèn
đong đưa lắc lư trong gió lạnh. Nó hốt hoảng la thất thanh tìm kiếm bà Sáu.
Khi đứng trước cửa nhà, nó thấy bà Sáu ngồi chống cằm buồn bã bên cây đèn dầu.
Chiếc khăn trên tay chấm nước mắt liên tục vì cảm động tiếng kêu la của đứa
cháu nuôi. Nó lấm lét bước vào nhà, tiến gần ôm lấy vai bà mặt mày mếu máo nói.
- Bà Sáu ơi, bà đừng bỏ con! Con xin lỗi bà không có ở nhà để giữ cây khế
cho bà.
- Trời mưa gió lớn làm gẫy cây khế, chớ con có tài sức gì mà chống với
thiên tai được. Mưa lũ lớn như vầy mà con chơi bây giờ mới về, làm bà lo muốn
chết.
Bà ngưng lại, đưa ánh mắt trách móc thằng cháu rồi cảm động nói tiếp.
- Thôi, đi vào tắm rửa ăn cơm trước đi. Bà thấy bực bội khó chịu trong người
quá, bà sẽ ăn sau. Bà có kho cá với khế ngọt cho con đó. Nhớ gắp cá tém cho gọn
gàng nghe.
Nhìn bà Sáu đứng lên thắp nhang khấn vái ở bàn thờ, Tiến bước cà thọt đi
vào trong nhà chẳng dám nói thêm lời nào. Nó bắt đầu cảm thấy người nóng lạnh,
bàn chân thốn nhức kinh khủng. Thế mà nó vẫn ăn cơm ngon lành với món khoái khẩu
cá kho khế và canh mồng tơi tôm khô.
Sau khi ăn uống dọn dẹp, bà kêu Tiến lên để bà chăm sóc. Bà rửa vết thương
bằng nước muối ấm thật sạch sẽ. Bà lấy trái cà pháo đút vào trong ngón chân cái
của nó, lấy mồng cỏ đã ngâm sẵn đắp vào vết cắt mưng mủ ở cổ chân, cuối cùng sợi
vải mỏng băng bó vết thương đàng hoàng. Nó cúi đầu ngồi yên nhìn bà Sáu chăm
sóc vết thương, miệng mấp máy muốn nói điều gì tri ân nhưng không thành lời.
- Con xin lỗi bà. Con đội ơn bà đã lo cho con...
Bà Sáu chẳng phản ứng gì vì đã nghe nhiều lần câu nói này. Thực ra bà hài
lòng sung sướng những lời nói chân phương mộc mạc. Tình cảm của nó rất là vô tư
hồn nhiên.
Tiếng côn trùng vang vọng trong đêm tối hoang vắng. Cơn gió thoảng sau cơn
mưa không lạnh nhưng cũng làm cho Tiến rùng mình khi nhìn ánh đèn măng xông hắt
sáng lấp lánh ngoài vườn hiện rõ cái tan nát của cấy khế ngọt. Một chặp sau Tiến
lăn đùng trên tấm phản bên cạnh nhà bếp ngủ say mê mệt quên đóng cánh cửa
phòng. Bà Sáu kéo chiếc ghế đẩu ngồi sát cửa sổ nhìn đứa cháu nuôi đang ngủ,
nhìn cây khế già không còn nữa lòng bà buồn xôn xao.
Sáng sớm ngày hôm sau, bà Sáu vừa thức dậy đã nghe tiếng chặt cây lụp bụp
bên hông nhà. Bà ra ngoài quan sát Tiến dậy sớm làm công việc hằng ngày. Bà thấy
đứa cháu đang cởi trần vạm vỡ, quần xắn tới đầu gối giơ cái chân đen đuổi đi cà
thọt. Tay cầm cây rựa thoanh thoắt tước gọn những nhánh cây khế bị gãy ra từng
khúc chất đống làm củi, còn những nhánh nhỏ lá cây bỏ sang một bên. Chẳng bao
lâu nó đã dọn cả đống thân cây gãy bên hông nhà. Bà bước ra sân sau rửa mặt, thấy
các lu nước đã đầy tràn, quần áo giặt giũ treo phơi gọn gàng. Vườn tượt rau
trái xanh tươi mầu đất mới bới rẫy, những giọt nước còn long lanh trên mặt lá.
Mặt đất vẫn còn ướt nhèm nhẹp, mấy con heo cũng được tắm sửa sạch sẽ. Bắp chuối
xắt đầy đủ để gọn gàng trong chuồng cho heo ăn. Bà Sáu tủm tỉm sung sướng đi
vào nhà bếp. Bà thấy một rổ khoai lang còn nóng hổi và bình trà vừa pha.
Đây là những công việc mỗi sáng sớm của Tiến, chẳng bao giờ để bà nhắc nhở.
Thường làm xong công việc nhà, nó lại đi chơi với bạn bè một ngày hai ba cữ.
Chúng đi tắm sông lội suối, cào mương bắt tôm, đào giun câu cá, ngâm hồ bắt cá
trê. Chúng tham gia hội hè đình đám, ghiền xem cải lương hát bộ ban tối. Đến
mùa trái cây chúng đi khắp chòm xóm bẻ mía trộm, tỉa tầm ruộc, chỉa xoài ổi,
khèo me hái keo, hay là quậy trên cây vú sữa ở nhà. Bà hiểu những sinh họat của
bọn nhỏ lành mạnh gần gũi với thiên nhiên, nhưng mỗi khi nó đi chơi bà lại lo lắng
chờ đợi cháu an toàn trở về nhà. Bà chỉ cầu mong thằng cháu sống yên vui bên cuộc
đời nghèo nàn bất hạnh của bà.
Lúc bưng khay trà và rổ khoai lang luộc lên nhà, bà thoáng thấy Tiến cầm
cái rựa và cái cần câu bước ra ngoài hàng dậu với mấy đứa bạn trong xóm, cả
nhóm đều vác cuốc xẻng dao rựa trên tay, nhốn nháo bàn tán về các cây kế bị
gãy. Một chốc lác, bà chẳng thấy bóng dáng mấy tụi nhỏ ở đâu. Mưa lũ hôm qua
làm ngập lụt các con đường đê bùn lầy trơn trợt, bà lại sợ cho cái chân đau của
Tiến không may trượt té trên đường. Bà cầm tách trà nóng thưởng thức, ngồi gật
gù lẩm bẩm một mình:
- Ý trời! Trời sinh trời dưỡng.
Nhiều đêm bà cứ trăn trở người không ngủ được, bà nghĩ miên man về cuộc đời
của bà và đứa cháu nuôi là Tiến. Bà càng thương xót cho cuộc đời bất hạnh của
Tiến phải xa cách mái gia đình từ lúc nhỏ.
Tướng vóc của Tiến không tốt như là đầu nhỏ như vỏ dừa lại sói thượng, lỗ
tai nhỏ cụp lại cộng thêm cái trán thấp tẹt thiếu thông minh, tay dài như vượn
và bàn chân gầy to, miệng thì hô cười hở lợi nhe răng. Có người cho là dị tướng,
có thầy khẳng định rằng yểu tướng. Nhất là Tiến khắc mạng tuổi với người cha.
Lúc nhỏ nó rất khó nuôi bị đau ốm èo uột, nhiều lần tưởng chết vì kinh phong,
té giếng, té giường, té sông. Còn ông cha là trung sĩ truyền tin cũng suýt chết
vì đạn và mìn. Mẹ Tiến tin vào bạn bè chòm xóm mách vẻ đủ thứ, theo đuổi mọi
cách để hủy diệt những tai họa bằng cách mời thầy lễ cúng kiến, ếm bùa, đổi
nhà, xoay hướng nhà cho đúng phong thủy. Có lần định cho con vào chùa làm chú
tiểu để đổi cải số mạng, ngay cả tính chuyện đổi tên gọi là ‘Tủn’.
Tiến là đứa con trai út trong một gia đình đông con bốn trai và năm gái.
Theo lời truyền khẩu, đây là tứ quý và ngũ long, gia đình sẽ được sung sướng
giàu có. Nhưng hoàn toàn trái ngược, đời sống gia đình luôn vất vả chật vật chỉ
vừa đủ miệng ăn. Buôn bán luôn bị thất bại dầu chỉ hàng quán vớ vẩn. Mãi cho đến
ngày mang nó gửi cho bà thím Sáu nuôi nấng, cả toàn gia được yên ổn làm ăn phát
đạt và bản mệnh của Tiến vững vàng. Mọi người càng mạnh mẽ tin vào bản mệnh của
hai cha con được cải đổi thoát kiếp.
Ba Tiến được giải ngũ vĩnh viễn, dọn gia đình về thành phố khác cùng mẹ làm
ăn buôn bán tạp hoá được an khang. Cuộc sống bề thế hơn và con cái khỏe mạnh
khôn lớn học hành giỏi giang. Nhưng buôn bán làm ăn càng to lớn càng bận rộn ít
khi lui tới thăm viếng con. Các anh em quen đời sống ở thành thị phồn hoa văn
minh, lâu lâu ghé chơi cũng không thể nào kết nối được nhịp cầu quê mùa hồn
nhiên. Còn Tiến về thăm gia đình mỗi năm, vẫn cảm thấy lạc lõng gò bó, cuộc sống
ồ ạt bon chen. Nó chỉ mong sớm trở về thôn xóm yên ổn sống bên bà Sáu.
Tiến chẳng phải vì ham sống sợ chết mà không dám gần gũi với gia đình. Còn
bà Sáu cũng chẳng vì sợ cô đơn mà đem lòng íck kỷ làm mất đi nguồn gốc của Tiến.
Cuộc đời dẫu nghèo khổ bao nhiêu năm, hắn đã khôn lớn khỏe mạnh sống trong tình
thương của bà. Tiến có một đời sống hạnh phúc, luôn kính trọng thuơng yêu bà, vẫn
xưng hô là bà cháu ngọt ngào. Tiến dường như đã gần gũi thân thương mấy đứa bạn
quê mùa ở xóm làng nhỏ nhắn. Nó cũng từng bị té cầu, rơi từ nóc nhà, lật ghe
xém chết đuối, té từ cây vú sữa. Nó vẫn vui vẻ sống khỏe mạnh cực nhọc lao động
mỗi ngày. Cá tính liều mạng nghịch ngầm nhưng nó luôn giúp đỡ kẻ yếu hèn và
thương yêu chia xẻ với mọi người. Bà con hàng xóm và bạn bè đều yêu mến Tiến.
Bà Sáu không có công sinh nhưng có công dưỡng. Số phận kiếp nghèo nhưng bà
giàu tình thương người. Tâm hồn bà cũng có lúc chưa tịnh, lòng bà còn có lúc buồn
lúc vui bâng quơ, hay la mắng trống không với thằng cháu nuôi. Giờ nhìn đứa
cháu nuôi khôn lớn được gần gũi với thiên nhiên, sống vô tư hồn nhiên. Nó không
buồn tủi muộn phiền, không biết đến giàu nghèo, không biết đến tham vọng, không
sân si giận dữ. Trong tâm hồn của Tiến mọi thứ vật chất chung quanh đều là
không, bà Sáu cho đây là hạnh phúc cho cuộc đời của thằng bé.
Số kiếp của Tiến bị đẩy đưa đến một hoàn cảnh trái ngang ngoài ý muốn, giờ
định mệnh của nó cũng do số Trời - Trời sinh, Trời dưỡng. Nhưng thực ra chính tấm
lòng yêu thương dưỡng dục đầy đạo đức chân tình của bà Sáu, đã cải hóa phần phước
cuộc đời Tiến được nhẹ nhàng thảnh thơi.
(Mưa Lũ Trong Đời - Trần Cường,
July 5, 2005) Revised on 041707
Cầu Xin
Cầu xin còn những hôm xưa
Cầu xin mình vẫn muội mê tiếng cười
Cầu xin nụ chín nuông chiều
Còn buồn để nhớ, có vui để chờ
Cầu xin em vẫn là em
Cầu xin soi mãi có người trong gương
Cầu xin bao cánh vô thuờng
Khoan dung hồng phúc bỏ điều bâng quơ
Cầu xin em mãi yêu đời
Cầu xin mãi ấm lửa nồng đêm đông
Cầu xin trong cõi trời xanh
Đừng thêm mưa bão, yên lành đời em...
TC May 2004
Tuesday, June 24, 2014
Monday, June 23, 2014
Chiếc Lá Ven Sông
Trần Cường
May 20, 2005
Nhân vật, cấu trúc hình ảnh "Xóm Lá" và cốt
truyện đều do trí óc tưởng tượng. Bài viết muốn nói lên một ý niệm - Dù
bất cứ hoàn cảnh cuộc sống ta thay đổi như thế nào, nhưng cũng có những
lúc con người cũng muốn tìm về những nguồn gốc cội nguồn quê hương chính
mình.
![[Image: nature-500x375.jpg?m=1377793320]](http://www.daihocsuphamkythuat-thuduc.org/gallery/var/albums/Tran-Gia-Cuong/nature-500x375.jpg?m=1377793320)
Bóng cây xanh mướt sau cơn mưa làm hiện rõ những con đường hẻm đất đỏ xình lầy, chen lẫn với mầu nâu của những mái nhà bằng lá, bằng tôn xen kẽ lụp xụp nghèo nàn không đủ che nắng che mưa. Giây điện giăng ngang dọc chùng thấp trong xóm, các nọc lưới đánh cá dựng giăng phơi ngổn ngang cùng các thuyền nan đen úp ngửa . Mực nước sông mầu xám đục chảy siết dâng lên bìa xóm, có một vài ngõ hẻm nước đã lên tới cổ chân. Rác rưới và cây lá dồn ngập đày ven sông dâng mùi hôi tanh nồng nặc. Dân địa phương dùng cái tên đơn giản - Xóm Lá để nói lên cái đời sống chật vật nghèo nàn. Vì nhà cửa chằng chịt không có địa chỉ rõ ràng, khách lạ đến thăm phải hỏi thăm dân trong xóm thì mới kiếm được nhà người quen.
Mặt trời lên đỉnh đầu cả xóm vắng vẻ bóng người qua lại. Bên con đường đất đầu hẻm, một cậu bé mặt mày lấm luốc bẩn thỉu, đôi chân lấm bùn đen đuốc. Bé bận cái quần sọt xanh bạc mầu và cái áo thun cũ rách, lủi thủi mải mê chơi bắn bi không để ý đến một ai. Bé lẩm bẩm nói chuyện và thể hiện buồn vui một mình, lâu lâu lại đưa hai tay ôm cái đầu, đôi con mắt lờ đờ nhìn về hướng ven sông. Một chặp sau bé lấy hòn đá đập nát các trái sung, mặt mày đỏ bừng như đang giận dữ việc gì. Chỉ có thế, bé cứ lập đi lập lại cho đến lúc nguôi ngoai, bé lại lấy một cành cây nhỏ, ngồi đào lỗ mải mê chơi bắn bi tiếp.
Lúc đang chơi bé chợt nghe có tiếng đùa giỡn nhốn nháo của mấy thằng bạn. Bé ngồi chồm người dậy quan sát một đám chạy đến gần, còn đám chạy qua ngỏ hẻm khác. Cả hai đám vừa chạy vừa ngoái cổ lại trêu ghẹo.
- Chánh chảnh banh, mất công sanh dưỡng, giờ chành hảnh chành hanh một mình.
Sau khi đám bạn chọc chán chê rồi bỏ đi, thằng bé ngồi dựa vào cây sung tủi thân khóc cho đến lúc đôi mắt mỏi mệt lim dim buồn ngủ. Bỗng nghe ai khều vào vai hỏi thăm.
- Này cháu, cho bác hỏi thăm. Đây có phải là xóm Lá không?
Bé đứng dậy thật nhanh, ngơ ngác nhìn người đàn ông. Đôi mắt bé nhấp nháy vầng trán nhíu lại ra vẻ suy nghĩ. Người đàn ông hỏi tiếp.
- Cháu có biết nhà ông bà Lành không? Cháu có thể chỉ nhà cho bác được không?
- Dạ biết, ba má cháu mất rồi! Bác kiếm ba má cháu làm chi? Bé mạnh dạn hỏi.
Người đàn ông đâu ngờ đứa bé là con của Lành - Người em út của ông vừa mất cách đây ba tháng. Sau khi trả lời một cách ngây thơ, bé quay lưng lủi thủi bỏ đi. Ông nhìn chăm chăm vào thằng bé mặt mày đen đuổi lấm luốt, mới nhận thấy ra cái nét của Lành, nhất là tướng đi. Ông vội vàng đeo quàng cái xách tay qua vai, tiến tới ôm lấy vai đứa bé. Thằng bé lấm lét nhẩy sang một bê muốn co giò chạy, mặc cho ông bác cố gắng dỗ dành thuyết phục. Bé chần chừ trố mắt nhìn ông từ trên xuống dưới, bé cũng thấy có một cái gì thân quen từ giọng nói đến ánh mắt. Nhất là cái cảm giác của bàn tay ông khi ôm vào vai của mình. Nó vòng tay đứng ngơ ngác không nói một lời, bắt đầu bước đảo vòng qua lại nhìn ông. Ông Lại lúng túng không biết giải thích ra sao, tiếp tục dỗ dành.
- Bác Lại đây! Bác là anh hai của ba cháu! Nghe tin ba cháu mất, bác từ Mỹ về kiếm cháu. Thôi cháu đưa bác tới bạn của ba cháu là ông bà Quý, có được không?
Bé chắp hai tay đằng sau chau mày suy nghĩ, lủi thủi bỏ đi chẳng nói thêm lời nào, còn ông vội vàng đi theo sau. Nắng buổi trưa càng nóng nực gay gắt, bé Chánh loắng thoắt đi thật mau, rồi dừng lại đứng chờ ra vẻ sung sướng. Hai bàn tay thọt vào túi quần giữ các viên bi kêu lẻng kẻng. Ông bác thì mồ hôi nhuễ nhoại chiếc áo sơ mi tuột xộc xệ ra ngoài lưng quần, khập khiểng bước trên con đường đất cố bắt kịp thằng cháu muốn hụt hơi. Chỉ quanh co vài đường hẻm, ông thấy một người đàn bà đứng trong quán nói.
- Chánh! Con đi đâu từ sáng đến giờ mới về. Đi đâu phải cho thím biết nghe không?
- Dạ thưa có bác Lại kiếm ba con.
Bà Mai niềm nở mời ông vào nhà, rồi quay sang bảo Chánh vào báo tin cho chồng bà đang cho heo ăn ở sau nhà. Thằng bé ngoái cổ nhìn người bác vẻ mặt sung sướng rồi bỏ chạy vào trong. Ông Lại đưa mắt nhìn theo, lòng ông nhẹ nhàng vui mừng tìm được đứa cháu. Bà Mai vừa bán hàng vừa lấy nước mời ông. Ông đến cái bàn xếp nhỏ, sửa soạn quần áo gọn gàng. Ông rút cái khăn tay lau mồ hôi ở mặt và cổ, còn chiếc áo sơ mi của ông ướt đẫm trên lưng. Ông đi vòng quan sát sinh hoạt buôn bán và khung cảnh sơ xài chật chội của xóm Lá. Bà Mai vừa nhanh nhẩu bán hàng vừa nôn nóng kể đứt đoạn câu chuyện về cái chết của vợ chồng Lành.
- Ngày hôm đó như thường lệ, cháu Chánh ra bờ sông đón ba mẹ buôn bán chợ ở Xổm phiá bên kia sông về. Trong lúc ba mẹ cháu thu xếp đồ đạt lên bờ, nó ngồi chơi bắn bi với mấy đứa nhỏ trong xóm. Cháu bất cẩn bị trượt chân rơi xuống sông vì cố chạy theo chặn viên bi lại. Không may cái áo của cháu móc vào vòng giây kẽm gai cũ quấn chằng chịt vào cột nhà sàn dưới lòng sông. Chú Lành vội vã nhảy ngay xuống sông mải lo cứu đứa con, còn thím Lành chập choạng một mình leo lên ghe để phụ ảnh cứu cháu. Lúc cho thằng bé lên ghe, anh lại nghe mọi người nhốn nháo lặn kiếm chị Lành. Thằng bé con bị dây kẽm gai móc sướt đầy người, ảnh cũng bị thương máu me đầy người lại lặn xuống sông lo cứu vợ. Anh Qúy lo đẩy ghe đưa cháu lên bờ rồi nhảy xuống sông phụ với anh Lành kiếm chị. Hôm đó trời lại tối sầm dòng sông chảy siết, nhiều người bơi lặn cố tìm kiếm càng làm cho nước sông đục ngàu. Rốt cuộc cả xóm không cứu được cả hai. Mãi đến hai ngày sau, xác của anh chị nổi lên trôi dạt về cuối xóm…
Nghe qua câu chuyện ông Lại xót xa đưa mắt đảo kiếm thằng cháu. Chỉ thấy ông Quý đi lên trong cái áo cũ vàng khè, quần bà ba đen bạc mầu ống cao ống thấp, hai bàn tay còn ướt chùi trên lưng áo. Ông Quý mừng rỡ nhưng lúng túng vì cái mùi cám heo còn bám, phần ông Lại ngại ngùng đưa hai tay ôm lấy trán ra vẻ nhớ lại chuyện xưa.
- À, té ra đây là Quý bạn của Lành học chung ở Cao Đẳng Hàng Hải ở Nha Trang.
- Đúng rồi đó! Anh em xa nhau hơn hai mươi năm, còn nhớ nhau là quý quá rồi. .
Trong lúc ông Quý mời thuốc lá, bà Mai châm nước, ông Lại lên tiếng.
- Gia đình anh thành thật cám ơn của cô chú đã lo chôn cất vợ chồng Lành và trông nom cháu Chánh. Chứ làm sao hai gia đình rủ nhau về đây sinh sống?
- Bọn em tính ẩn thân nơi này gần gũi sông rạch để kiếm đường đi vượt biên. Nhưng không có thời, thất bại nhiều lần không còn vốn liếng, nên phải chôn chân ở đây.
- Thật tội nghiệp! Lành mặc cảm làm ăn thất bại, di chuyển gia đình nhiều nơi nên mất liên lạc. May thay có chú thím báo tin cho biết.
- Kiếm mấy ngày mới tìm ra địa chỉ cũ của anh. Tụi em gửi cầu may nhưng cũng may mắn anh nhận được tin. Tụi em vẫn nhang đèn cúng vái cho vợ chồng Lành đều đặn.
Ông Quý cúi mặt vân vê điếu thuốc trên tay như che dấu nỗi xúc động. Bé Chánh quần áo sạch đi lên nhận người bác, khuôn mặt nũng nĩu phụng phịu đẫm đìa nước mắt. Ông Lại ôm cháu rúc vào lòng không cầm được cảm động. Giờ ông ở Mỹ xa xôi, đứa cháu út mồ côi ở quê nhà. Ông chỉ biết cáo từ theo đứa cháu mồ côi đi về nhà cho ấm cúng.
Ông đi theo đứa cháu vào căn nhà một chái nhỏ nhắn. Căn phòng rất đơn sơ ngăn nắp, chỉ vỏn vẹn một cái giường và một tủ nhỏ. Ở dưới góc tủ là những đôi dép, đôi giầy người lớn; trên nóc tủ là tấm hình vợ chồng Lành, cái bóp cũ và cái lược. Một chiếc giường gỗ lớn kê sát gần cửa sổ, cặp mái chèo với hai giây dừa lớn cột gọn ghẽ trên góc tường. Ông vội xếp gọn các hành lý chẳng để ý thằng cháu lom khom lục lọi cái gì dưới gầm giường. Vừa thắp nhang trên bàn thờ, quay sang thấy thằng bé ngồi cúi mặt xuống đất buồn bã. Ông tiến tới ôm lấy đứa cháu bế vào lòng. Đôi tay ông bắt đầu cảm giác sợ hãi khi cả thân người bé mềm nhũn. Bé nũng nịu dụi đầu vào lồng ngực như tìm thấy nhịp đập con tim của dòng máu nóng thân thuộc. Ông ôm ghì lấy cháu cảm động sung sướng, chỉ vài phút sau đứa cháu ngủ say ngon lành trên tay. Ông tưởng nhớ lại thuở hàn vi lúc lên tám phụ giúp cha mẹ việc nhà cửa và chăm sóc các em. Ông từng bế Lành đi chơi khắp xóm, tắm rửa và ru em ngủ, thổi cơm nấu bếp lo cho em ăn, anh em luôn quấn quít chơi bên nhau. Giờ trong căn nhà lạnh lẽo trống trải, bao nhiêu kỷ niệm dấu yêu của người em lại hiện về trong trí óc ông. Hình ảnh đó giờ cô đọng ở đứa cháu ông đang bồng trên tay. Cảm xúc tiếc nuối trong ký ức len lén vào tâm hồn của một người tha phương. Phần lớn bà con họ hàng sống chết gắn bó với nhau với quê cha đất tổ, còn những ai xa xứ là họ biệt xứ hay lâu lắm mới có dịp trở về thăm. Trong cuộc đời tha hương, người thất bại không dám ngưởng mặt quay về quê nhà, người thành công giàu sang thì ít nhìn xuống dưới. Nay ông trở về, chỉ nhìn vào vài cây dừa sau vườn, ông đã xao động thèm thuồng những hình ảnh đơn sơ đằm thắm của quê nhà xa xưa.
Sau khi đặt thằng cháu lên giường và chuẩn bị quần áo ra giếng tắm. Tay ông cầm vòng dây dừa đi ra sau nhà, ngước nhìn những cây dừa mải mê. Đã hơn hai mươi năm chưa được trèo dừa, nhưng nghĩ tới người em út quá cố ông nhất định phải leo cho đến đỉnh. Ông thọc đôi chân không vào dây dừa căng vòng vào gốc cây, hai tay ôm chặt vào thân cây nhấp người phóng. Chẳng một khó khăn nào, chỉ hơn mười nhấp ông đã leo ngồi trên bẹ dừa. Ông lấy sợi dây dừa vòng qua cổ, đưa tay bóp nắn đôi chân thốn đau đỏ rần. Ông bắt đầu xoắn bẻ dừa bỏ xuống đất kêu bình bịch. Chánh giật mình thức dậy, lồm cồm ngồi dậy nhìn qua cánh cửa sổ thấy bác Lại đang hái dừa. Bé leo nhanh qua cửa sổ, phóng ra ngoài sân reo thật lớn.
- Bác Lại hay quá! Bác Lại giống ba của con quá!
Ông vừa cúi xuống thì đã thấy bé Chánh loạng quạng dẫm chân lên một trái dừa, mất thăng bằng té bật ngửa người xuống mặt đất. Ông hoảng sợ, vội đưa hai tay và chân không ôm tuột dọc thân dừa xuống đất. Chánh lồm cồm bò dậy, chưa kịp phủi đất trên chân tay, thằng bé chụp lấy hai tay của người bác:
- Bác Lại hay quá! Bác Lại giống ba của con quá!
Vừa nói xong, bé nhìn thấy tay chân của người bác bị trầy sướt rướm máu. Thằng bé mặt mày tái mét hoảng hồn tống chạy một mạch cầu cứu. Lúc ông Quý đến nơi, thấy ông Lại đang lom khom múc nước giếng tắm, ngưởng mặt lên trời cười dòn tan rồi nói.
- Lâu ngày tắm nước giếng mát quá! Chú mang giùm mấy trái dừa về bên nhà, chốc nữa anh chặt dừa uống. Anh cứ tưởng không còn sức leo được mấy cây dừa rồi chớ.
Bé Chánh nhanh tay gom mấy trái dừa vào một chỗ, còn ông Quý khệ nệ mang những trái dừa về bên nhà. Ông Lại tiếp tục sải tay kéo gàu nước giếng dội vào người liên tục. Nước chảy từ trên đầu xuống mặt, miệng thèm thuồng nuốt nước nguồn quê hương thật ngọt ngào. Ông ngậm từng ngụm nước phun ra thỏa thích, miệng há hốc hú hét, hai chân nhịp nhảy sung sướng như đứa bé con. Ông cúi mặt vào miệng giếng la thật lớn.
- I am home! Lành ơi! Anh về đây em!
Tiếng vang dội ngược từ đáy giếng làm tươi mát cái quạnh hiu trong khu vườn nhà Lành. Ông Lại đảo mắt nhìn xung quanh, ngước mặt lên bầu trời xanh, rồi chống tay vào thành giếng nhìn thằng cháu đang sung sướng cười khúc khích. Ông tiếp tục kéo mấy gàu nước tắm ngoài sân, ngẩng mặt lên dội ào vào đầu sung sướng hét lên.
- Oop! Yeah! Oh my gosh!
Bé Chánh ngồi trố mắt nhìn ông cười, chẳng hiểu ông nói gì chỉ biết ông vui sướng. Chẳng đợi người nhắc, thằng bé cởi tung cái áo, chạy vào đứng bên cạnh tắm chung. Bé cũng bắt chước người bác cúi đầu la lớn xuống giếng.
- Ba Mẹ ơi! Bác Lại nè! Vui quá!
Ông Lại lấy gàu nước dội vào đầu Chánh. Xoay người qua tạt gàu nước vào hàng rào nhà chỗ mấy đứa nhỏ trong xóm đang núp rình nhìn hai bác cháu đang tắm, làm cả đám la lớn rã đám bỏ chạy tán loạn. Hai bác cháu cười rộn rã vì từ nay không ai được đụng chạm chọc phá Chánh nữa. Nhưng chỉ vài phút sau mấy đứa nhỏ lại kéo tới núp rình ở đàng xa hơn, lũ lượt láo nháo càng đông hơn. Tiếng cười đùa như ngày hội. Bé Chánh hãnh diện, chỉ có một buổi chiều mà cả xóm đã biết ông bác ở Mỹ về. Ai cũng muốn tò mò để biết mặt người anh của Lành, ai cũng trầm trồ khen ngợi tướng tá ông sang trọng. Tắm xong, hai bác cháu trở lại nhà ông bà Qúy. Mùi thức ăn bay thơm phức đến nhà trên, bé Chánh chạy thẳng vào bếp đứng bên cạnh thím Mai nói.
- Thím ơi thơm quá! Con đói bụng rồi. Thím ơi! Quốc đi đâu vậy?
- Quốc đi Tuy Hòa thăm quê ngoại đến cuối tuần mới về lại.
- Thím ơi! Con có phải về quê nội hay quê ngoại không Thím? Bé Chánh ngước mắt lo lắng hỏi, thím Mai kéo tay bé sát vào lòng.
- Đi đâu cũng không bằng nơi quê quán. Về đó ai ai cũng yêu thương bảo bọc mình. Thôi, con phụ dọn cơm lên nhà nghe.
Thằng bé vừa bưng cơm lên nhà, thấy ông Lại chặt mấy trái dừa gọn gàng. Ông lấy một con dao nhỏ tước những sợi vỏ dừa tươi xanh và sơ dừa trắng ngồi thắt một con chim cho bé Chánh. Thằng cháu thích món qùa đơn sơ, bắt đầu thu hút vào người bác. Suốt bữa ăn tối, ông Lại từ tốn nói qua câu chuyện về đời sống ở Mỹ, chuyến đi về Việt Nam, chuyện gia đình của ông. Ông Quý cũng kể những đời sống khắc khổ và tệ hại của xã hội hiện nay ở quê nhà. Bé Chánh cứ lặng thinh ăn uống ngon miệng, quay qua phụ thím Mai xếp bánh pha trà. Nhìn bé Chánh thoải mái tự nhiên như người trong gia đình, ông Quý chân tình nói:
- Em xin phép được đề nghị với anh như thế này. Anh cho em đi theo với cháu Chánh về thăm quê nhà để biết bà con hàng thân quyến. Gia đình tụi em cũng đơn chiếc chỉ có một đứa cháu trai Quốc. Chánh cũng như đứa con thứ hai của tụi em.
- Cảm ơn cô chú nhiều! Tôi…
- Em cũng thưa với anh là tụi em định bán hai căn nhà để dọn về Tuy Hoà sinh sống. Các cháu cần phải học hành để có tương lai sau này.
Ông Lại tỏ vẻ sung sướng đưa ly bia uống cùng ông Quý. Bé Chánh bỏ miếng bánh trên bàn, ngả người vào lòng bà Mai sung sướng. Nhìn vào ánh mắt, ông hiểu cháu muốn nói gì. Bà Mai đưa tay âu yếm vuốt tóc thằng bé.
- Thằng Quốc nhà em hợp tính với cháu Chánh. Cứ vắng mặt thằng này thì đứa kia hỏi. Hai đứa nó giống như chú Lành với ông xã của em.
- Gia đình anh thành thật mang ơn cô chú nhiều.
Cuộc chuyện trò kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Đến lúc từ giã, bé Chánh đã lăn đùng ngủ trên giường. Ông sung sướng bế đứa cháu về nhà trong trăng đêm rọi sáng lối đi. Xa xa dòng sông lấp lánh ánh trăng vàng, sóng dập dềnh ru xóm Lá ngủ say.
Sáng sớm ngày hôm sau, ông Lại vừa mở mắt thấy thằng cháu đang ngồi bên cạnh hai mái chèo. Bé loay hoay thắt sợi dây chỉ đỏ vào con chim bằng sợi dừa, quàng vào cổ đeo trước ngực. Nghe ông bác trở mình, bé mò lại ngồi bên cạnh giường mỉm cười. Ông dắt đứa cháu ra sân sau làm vệ sinh cá nhân.
Ông kéo lật ngược chiếc ghe nhỏ sau vườn, lau chùi và kiểm tra kỹ lưỡng rồi vác cái ghe bỏ ở trước nhà. Chánh hiểu bác như ý cha, mau mắn chạy vào nhà khiêng hai mái chèo và một cái cần câu đưa cho ông bác. Khi ông hỏi đường nào đi ra hướng mé sông, thằng bé trố mắt sợ hãi tỏ vẻ không muốn đi ra ngoài đó. Ông bác giả lơ, tiếp tục sai cháu cầm cái cần câu còn ông đội cái ghé nhỏ và tay cầm cặp mái chèo. Lúc đó ông Quý vừa đến nhà, mang theo ba ổ bánh mì thịt nóng hổi và một ly cà phê sữa nóng cho ông Lại. Cả ba cười nói rộn ràng sung sướng trên đường đi về hướng mé sông. Bọn trẻ trong xóm nhốn nháo chạy theo sau, không đứa nào dám chọc ghẹo. Chánh thân mật ngừng lại chia hai phong kẹo cao su cho lũ bạn. Người trong xóm chưa bao giờ thấy bé Chánh sung sướng như hôm nay. Cái phong thái bình dị của ông Lại, không ai tin rằng ông từ Mỹ trở về, niềm nở chào hỏi thân mật trên đường ra ven sông.
Bình minh vừa ló dạng ở chân trời và mặt sông lặng im như tờ. Mái chèo nhẹ khua động làm lấp lánh ánh nắng ban mai. Trong chớp nhoáng chiếc ghe đã giữa dòng sông, cả ba cười nói huyên thuyên, chẳng buồn thả cần câu. Bé Chánh móc trong túi ra ba viên bi thả vào lòng sông. Dường như tâm hồn bé đã được nhẹ nhàng. Bé nằm dài vào lòng ông Quý, thả hai chân lên thành ghe mấp máy nước. Bé tiếp tục nghe người lớn kể chuyện quê nhà thuở xa xưa, những năm tháng ở xóm Lá, những kỳ vượt biên thất bại. Trong giấc mơ cuộc đời mới, bé ngủ say sưa trong lòng người ba nuôi. Ông Lại cởi áo phủ che nắng cho Chánh, rồi cầm lại mái chèo từ từ đưa ghe đi một vòng trên sông để tìm làn gió mát cho đứa cháu đang ngủ say.
Khi trở về, ông bác mình trần trắng trẻo vác ghe và mang mái chèo đi trước, còn ông Quý bế bé Chánh đang ngủ trên tay. Nhìn tướng ông anh đội ghe đi giống y chang Lành, ông Quý tủm tỉm cười thầm kín.
Trên tay ông Quý bế đứa bé tuy không là ruột thịt, nhưng là giọt máu còn lại của người bạn thân yêu. Tình bạn dù có cao thượng đến đâu cũng không thể bù trừ tình cốt nhục thiêng liêng. Nhìn cốt người và dáng vóc của người bác về nhận đứa cháu ruột, ông Quý cảm thấy nguồn gốc thân thế con người không thể nào thay đổi. Ngày hôm qua ông Lại trong dáng vóc của một người văn minh xa lạ, nhưng hôm nay ông ít nhiều trong cốt cách của một người chân lấm tay bùn xa xưa. Có phải chăng chỉ có quê nhà và tình thân tộc là mạch sống vĩnh cửu của con người, luôn bao dung rộng mở bàn tay đón nhận người xa xứ được về sống lại đường xưa lối cũ.
Trên đầu ông Lại vác đội một cái thuyền nan và một cặp mái chèo. Ông có thể hãnh diện được sống lại với những nguồn vui mộc mạc đơn sơ ở quê hương. Mọi người kính trọng vào việc làm của ông – Đi tìm đứa cháu về gần gũi với gia tộc. Nhưng không ai có thể hiểu một mối lo âu hổ thẹn trong tấm lòng ông – Đứa con ruột duy nhất của ông là Steven Lee, tự đổi tên đổi họ vào lúc 18 tuổi. Hắn chưa bao giờ được ông nhắc tới trong khu xóm Lá bên sông.
![[Image: nature-500x375.jpg?m=1377793320]](http://www.daihocsuphamkythuat-thuduc.org/gallery/var/albums/Tran-Gia-Cuong/nature-500x375.jpg?m=1377793320)
Bóng cây xanh mướt sau cơn mưa làm hiện rõ những con đường hẻm đất đỏ xình lầy, chen lẫn với mầu nâu của những mái nhà bằng lá, bằng tôn xen kẽ lụp xụp nghèo nàn không đủ che nắng che mưa. Giây điện giăng ngang dọc chùng thấp trong xóm, các nọc lưới đánh cá dựng giăng phơi ngổn ngang cùng các thuyền nan đen úp ngửa . Mực nước sông mầu xám đục chảy siết dâng lên bìa xóm, có một vài ngõ hẻm nước đã lên tới cổ chân. Rác rưới và cây lá dồn ngập đày ven sông dâng mùi hôi tanh nồng nặc. Dân địa phương dùng cái tên đơn giản - Xóm Lá để nói lên cái đời sống chật vật nghèo nàn. Vì nhà cửa chằng chịt không có địa chỉ rõ ràng, khách lạ đến thăm phải hỏi thăm dân trong xóm thì mới kiếm được nhà người quen.
Mặt trời lên đỉnh đầu cả xóm vắng vẻ bóng người qua lại. Bên con đường đất đầu hẻm, một cậu bé mặt mày lấm luốc bẩn thỉu, đôi chân lấm bùn đen đuốc. Bé bận cái quần sọt xanh bạc mầu và cái áo thun cũ rách, lủi thủi mải mê chơi bắn bi không để ý đến một ai. Bé lẩm bẩm nói chuyện và thể hiện buồn vui một mình, lâu lâu lại đưa hai tay ôm cái đầu, đôi con mắt lờ đờ nhìn về hướng ven sông. Một chặp sau bé lấy hòn đá đập nát các trái sung, mặt mày đỏ bừng như đang giận dữ việc gì. Chỉ có thế, bé cứ lập đi lập lại cho đến lúc nguôi ngoai, bé lại lấy một cành cây nhỏ, ngồi đào lỗ mải mê chơi bắn bi tiếp.
Lúc đang chơi bé chợt nghe có tiếng đùa giỡn nhốn nháo của mấy thằng bạn. Bé ngồi chồm người dậy quan sát một đám chạy đến gần, còn đám chạy qua ngỏ hẻm khác. Cả hai đám vừa chạy vừa ngoái cổ lại trêu ghẹo.
- Chánh chảnh banh, mất công sanh dưỡng, giờ chành hảnh chành hanh một mình.
Sau khi đám bạn chọc chán chê rồi bỏ đi, thằng bé ngồi dựa vào cây sung tủi thân khóc cho đến lúc đôi mắt mỏi mệt lim dim buồn ngủ. Bỗng nghe ai khều vào vai hỏi thăm.
- Này cháu, cho bác hỏi thăm. Đây có phải là xóm Lá không?
Bé đứng dậy thật nhanh, ngơ ngác nhìn người đàn ông. Đôi mắt bé nhấp nháy vầng trán nhíu lại ra vẻ suy nghĩ. Người đàn ông hỏi tiếp.
- Cháu có biết nhà ông bà Lành không? Cháu có thể chỉ nhà cho bác được không?
- Dạ biết, ba má cháu mất rồi! Bác kiếm ba má cháu làm chi? Bé mạnh dạn hỏi.
Người đàn ông đâu ngờ đứa bé là con của Lành - Người em út của ông vừa mất cách đây ba tháng. Sau khi trả lời một cách ngây thơ, bé quay lưng lủi thủi bỏ đi. Ông nhìn chăm chăm vào thằng bé mặt mày đen đuổi lấm luốt, mới nhận thấy ra cái nét của Lành, nhất là tướng đi. Ông vội vàng đeo quàng cái xách tay qua vai, tiến tới ôm lấy vai đứa bé. Thằng bé lấm lét nhẩy sang một bê muốn co giò chạy, mặc cho ông bác cố gắng dỗ dành thuyết phục. Bé chần chừ trố mắt nhìn ông từ trên xuống dưới, bé cũng thấy có một cái gì thân quen từ giọng nói đến ánh mắt. Nhất là cái cảm giác của bàn tay ông khi ôm vào vai của mình. Nó vòng tay đứng ngơ ngác không nói một lời, bắt đầu bước đảo vòng qua lại nhìn ông. Ông Lại lúng túng không biết giải thích ra sao, tiếp tục dỗ dành.
- Bác Lại đây! Bác là anh hai của ba cháu! Nghe tin ba cháu mất, bác từ Mỹ về kiếm cháu. Thôi cháu đưa bác tới bạn của ba cháu là ông bà Quý, có được không?
Bé chắp hai tay đằng sau chau mày suy nghĩ, lủi thủi bỏ đi chẳng nói thêm lời nào, còn ông vội vàng đi theo sau. Nắng buổi trưa càng nóng nực gay gắt, bé Chánh loắng thoắt đi thật mau, rồi dừng lại đứng chờ ra vẻ sung sướng. Hai bàn tay thọt vào túi quần giữ các viên bi kêu lẻng kẻng. Ông bác thì mồ hôi nhuễ nhoại chiếc áo sơ mi tuột xộc xệ ra ngoài lưng quần, khập khiểng bước trên con đường đất cố bắt kịp thằng cháu muốn hụt hơi. Chỉ quanh co vài đường hẻm, ông thấy một người đàn bà đứng trong quán nói.
- Chánh! Con đi đâu từ sáng đến giờ mới về. Đi đâu phải cho thím biết nghe không?
- Dạ thưa có bác Lại kiếm ba con.
Bà Mai niềm nở mời ông vào nhà, rồi quay sang bảo Chánh vào báo tin cho chồng bà đang cho heo ăn ở sau nhà. Thằng bé ngoái cổ nhìn người bác vẻ mặt sung sướng rồi bỏ chạy vào trong. Ông Lại đưa mắt nhìn theo, lòng ông nhẹ nhàng vui mừng tìm được đứa cháu. Bà Mai vừa bán hàng vừa lấy nước mời ông. Ông đến cái bàn xếp nhỏ, sửa soạn quần áo gọn gàng. Ông rút cái khăn tay lau mồ hôi ở mặt và cổ, còn chiếc áo sơ mi của ông ướt đẫm trên lưng. Ông đi vòng quan sát sinh hoạt buôn bán và khung cảnh sơ xài chật chội của xóm Lá. Bà Mai vừa nhanh nhẩu bán hàng vừa nôn nóng kể đứt đoạn câu chuyện về cái chết của vợ chồng Lành.
- Ngày hôm đó như thường lệ, cháu Chánh ra bờ sông đón ba mẹ buôn bán chợ ở Xổm phiá bên kia sông về. Trong lúc ba mẹ cháu thu xếp đồ đạt lên bờ, nó ngồi chơi bắn bi với mấy đứa nhỏ trong xóm. Cháu bất cẩn bị trượt chân rơi xuống sông vì cố chạy theo chặn viên bi lại. Không may cái áo của cháu móc vào vòng giây kẽm gai cũ quấn chằng chịt vào cột nhà sàn dưới lòng sông. Chú Lành vội vã nhảy ngay xuống sông mải lo cứu đứa con, còn thím Lành chập choạng một mình leo lên ghe để phụ ảnh cứu cháu. Lúc cho thằng bé lên ghe, anh lại nghe mọi người nhốn nháo lặn kiếm chị Lành. Thằng bé con bị dây kẽm gai móc sướt đầy người, ảnh cũng bị thương máu me đầy người lại lặn xuống sông lo cứu vợ. Anh Qúy lo đẩy ghe đưa cháu lên bờ rồi nhảy xuống sông phụ với anh Lành kiếm chị. Hôm đó trời lại tối sầm dòng sông chảy siết, nhiều người bơi lặn cố tìm kiếm càng làm cho nước sông đục ngàu. Rốt cuộc cả xóm không cứu được cả hai. Mãi đến hai ngày sau, xác của anh chị nổi lên trôi dạt về cuối xóm…
Nghe qua câu chuyện ông Lại xót xa đưa mắt đảo kiếm thằng cháu. Chỉ thấy ông Quý đi lên trong cái áo cũ vàng khè, quần bà ba đen bạc mầu ống cao ống thấp, hai bàn tay còn ướt chùi trên lưng áo. Ông Quý mừng rỡ nhưng lúng túng vì cái mùi cám heo còn bám, phần ông Lại ngại ngùng đưa hai tay ôm lấy trán ra vẻ nhớ lại chuyện xưa.
- À, té ra đây là Quý bạn của Lành học chung ở Cao Đẳng Hàng Hải ở Nha Trang.
- Đúng rồi đó! Anh em xa nhau hơn hai mươi năm, còn nhớ nhau là quý quá rồi. .
Trong lúc ông Quý mời thuốc lá, bà Mai châm nước, ông Lại lên tiếng.
- Gia đình anh thành thật cám ơn của cô chú đã lo chôn cất vợ chồng Lành và trông nom cháu Chánh. Chứ làm sao hai gia đình rủ nhau về đây sinh sống?
- Bọn em tính ẩn thân nơi này gần gũi sông rạch để kiếm đường đi vượt biên. Nhưng không có thời, thất bại nhiều lần không còn vốn liếng, nên phải chôn chân ở đây.
- Thật tội nghiệp! Lành mặc cảm làm ăn thất bại, di chuyển gia đình nhiều nơi nên mất liên lạc. May thay có chú thím báo tin cho biết.
- Kiếm mấy ngày mới tìm ra địa chỉ cũ của anh. Tụi em gửi cầu may nhưng cũng may mắn anh nhận được tin. Tụi em vẫn nhang đèn cúng vái cho vợ chồng Lành đều đặn.
Ông Quý cúi mặt vân vê điếu thuốc trên tay như che dấu nỗi xúc động. Bé Chánh quần áo sạch đi lên nhận người bác, khuôn mặt nũng nĩu phụng phịu đẫm đìa nước mắt. Ông Lại ôm cháu rúc vào lòng không cầm được cảm động. Giờ ông ở Mỹ xa xôi, đứa cháu út mồ côi ở quê nhà. Ông chỉ biết cáo từ theo đứa cháu mồ côi đi về nhà cho ấm cúng.
Ông đi theo đứa cháu vào căn nhà một chái nhỏ nhắn. Căn phòng rất đơn sơ ngăn nắp, chỉ vỏn vẹn một cái giường và một tủ nhỏ. Ở dưới góc tủ là những đôi dép, đôi giầy người lớn; trên nóc tủ là tấm hình vợ chồng Lành, cái bóp cũ và cái lược. Một chiếc giường gỗ lớn kê sát gần cửa sổ, cặp mái chèo với hai giây dừa lớn cột gọn ghẽ trên góc tường. Ông vội xếp gọn các hành lý chẳng để ý thằng cháu lom khom lục lọi cái gì dưới gầm giường. Vừa thắp nhang trên bàn thờ, quay sang thấy thằng bé ngồi cúi mặt xuống đất buồn bã. Ông tiến tới ôm lấy đứa cháu bế vào lòng. Đôi tay ông bắt đầu cảm giác sợ hãi khi cả thân người bé mềm nhũn. Bé nũng nịu dụi đầu vào lồng ngực như tìm thấy nhịp đập con tim của dòng máu nóng thân thuộc. Ông ôm ghì lấy cháu cảm động sung sướng, chỉ vài phút sau đứa cháu ngủ say ngon lành trên tay. Ông tưởng nhớ lại thuở hàn vi lúc lên tám phụ giúp cha mẹ việc nhà cửa và chăm sóc các em. Ông từng bế Lành đi chơi khắp xóm, tắm rửa và ru em ngủ, thổi cơm nấu bếp lo cho em ăn, anh em luôn quấn quít chơi bên nhau. Giờ trong căn nhà lạnh lẽo trống trải, bao nhiêu kỷ niệm dấu yêu của người em lại hiện về trong trí óc ông. Hình ảnh đó giờ cô đọng ở đứa cháu ông đang bồng trên tay. Cảm xúc tiếc nuối trong ký ức len lén vào tâm hồn của một người tha phương. Phần lớn bà con họ hàng sống chết gắn bó với nhau với quê cha đất tổ, còn những ai xa xứ là họ biệt xứ hay lâu lắm mới có dịp trở về thăm. Trong cuộc đời tha hương, người thất bại không dám ngưởng mặt quay về quê nhà, người thành công giàu sang thì ít nhìn xuống dưới. Nay ông trở về, chỉ nhìn vào vài cây dừa sau vườn, ông đã xao động thèm thuồng những hình ảnh đơn sơ đằm thắm của quê nhà xa xưa.
Sau khi đặt thằng cháu lên giường và chuẩn bị quần áo ra giếng tắm. Tay ông cầm vòng dây dừa đi ra sau nhà, ngước nhìn những cây dừa mải mê. Đã hơn hai mươi năm chưa được trèo dừa, nhưng nghĩ tới người em út quá cố ông nhất định phải leo cho đến đỉnh. Ông thọc đôi chân không vào dây dừa căng vòng vào gốc cây, hai tay ôm chặt vào thân cây nhấp người phóng. Chẳng một khó khăn nào, chỉ hơn mười nhấp ông đã leo ngồi trên bẹ dừa. Ông lấy sợi dây dừa vòng qua cổ, đưa tay bóp nắn đôi chân thốn đau đỏ rần. Ông bắt đầu xoắn bẻ dừa bỏ xuống đất kêu bình bịch. Chánh giật mình thức dậy, lồm cồm ngồi dậy nhìn qua cánh cửa sổ thấy bác Lại đang hái dừa. Bé leo nhanh qua cửa sổ, phóng ra ngoài sân reo thật lớn.
- Bác Lại hay quá! Bác Lại giống ba của con quá!
Ông vừa cúi xuống thì đã thấy bé Chánh loạng quạng dẫm chân lên một trái dừa, mất thăng bằng té bật ngửa người xuống mặt đất. Ông hoảng sợ, vội đưa hai tay và chân không ôm tuột dọc thân dừa xuống đất. Chánh lồm cồm bò dậy, chưa kịp phủi đất trên chân tay, thằng bé chụp lấy hai tay của người bác:
- Bác Lại hay quá! Bác Lại giống ba của con quá!
Vừa nói xong, bé nhìn thấy tay chân của người bác bị trầy sướt rướm máu. Thằng bé mặt mày tái mét hoảng hồn tống chạy một mạch cầu cứu. Lúc ông Quý đến nơi, thấy ông Lại đang lom khom múc nước giếng tắm, ngưởng mặt lên trời cười dòn tan rồi nói.
- Lâu ngày tắm nước giếng mát quá! Chú mang giùm mấy trái dừa về bên nhà, chốc nữa anh chặt dừa uống. Anh cứ tưởng không còn sức leo được mấy cây dừa rồi chớ.
Bé Chánh nhanh tay gom mấy trái dừa vào một chỗ, còn ông Quý khệ nệ mang những trái dừa về bên nhà. Ông Lại tiếp tục sải tay kéo gàu nước giếng dội vào người liên tục. Nước chảy từ trên đầu xuống mặt, miệng thèm thuồng nuốt nước nguồn quê hương thật ngọt ngào. Ông ngậm từng ngụm nước phun ra thỏa thích, miệng há hốc hú hét, hai chân nhịp nhảy sung sướng như đứa bé con. Ông cúi mặt vào miệng giếng la thật lớn.
- I am home! Lành ơi! Anh về đây em!
Tiếng vang dội ngược từ đáy giếng làm tươi mát cái quạnh hiu trong khu vườn nhà Lành. Ông Lại đảo mắt nhìn xung quanh, ngước mặt lên bầu trời xanh, rồi chống tay vào thành giếng nhìn thằng cháu đang sung sướng cười khúc khích. Ông tiếp tục kéo mấy gàu nước tắm ngoài sân, ngẩng mặt lên dội ào vào đầu sung sướng hét lên.
- Oop! Yeah! Oh my gosh!
Bé Chánh ngồi trố mắt nhìn ông cười, chẳng hiểu ông nói gì chỉ biết ông vui sướng. Chẳng đợi người nhắc, thằng bé cởi tung cái áo, chạy vào đứng bên cạnh tắm chung. Bé cũng bắt chước người bác cúi đầu la lớn xuống giếng.
- Ba Mẹ ơi! Bác Lại nè! Vui quá!
Ông Lại lấy gàu nước dội vào đầu Chánh. Xoay người qua tạt gàu nước vào hàng rào nhà chỗ mấy đứa nhỏ trong xóm đang núp rình nhìn hai bác cháu đang tắm, làm cả đám la lớn rã đám bỏ chạy tán loạn. Hai bác cháu cười rộn rã vì từ nay không ai được đụng chạm chọc phá Chánh nữa. Nhưng chỉ vài phút sau mấy đứa nhỏ lại kéo tới núp rình ở đàng xa hơn, lũ lượt láo nháo càng đông hơn. Tiếng cười đùa như ngày hội. Bé Chánh hãnh diện, chỉ có một buổi chiều mà cả xóm đã biết ông bác ở Mỹ về. Ai cũng muốn tò mò để biết mặt người anh của Lành, ai cũng trầm trồ khen ngợi tướng tá ông sang trọng. Tắm xong, hai bác cháu trở lại nhà ông bà Qúy. Mùi thức ăn bay thơm phức đến nhà trên, bé Chánh chạy thẳng vào bếp đứng bên cạnh thím Mai nói.
- Thím ơi thơm quá! Con đói bụng rồi. Thím ơi! Quốc đi đâu vậy?
- Quốc đi Tuy Hòa thăm quê ngoại đến cuối tuần mới về lại.
- Thím ơi! Con có phải về quê nội hay quê ngoại không Thím? Bé Chánh ngước mắt lo lắng hỏi, thím Mai kéo tay bé sát vào lòng.
- Đi đâu cũng không bằng nơi quê quán. Về đó ai ai cũng yêu thương bảo bọc mình. Thôi, con phụ dọn cơm lên nhà nghe.
Thằng bé vừa bưng cơm lên nhà, thấy ông Lại chặt mấy trái dừa gọn gàng. Ông lấy một con dao nhỏ tước những sợi vỏ dừa tươi xanh và sơ dừa trắng ngồi thắt một con chim cho bé Chánh. Thằng cháu thích món qùa đơn sơ, bắt đầu thu hút vào người bác. Suốt bữa ăn tối, ông Lại từ tốn nói qua câu chuyện về đời sống ở Mỹ, chuyến đi về Việt Nam, chuyện gia đình của ông. Ông Quý cũng kể những đời sống khắc khổ và tệ hại của xã hội hiện nay ở quê nhà. Bé Chánh cứ lặng thinh ăn uống ngon miệng, quay qua phụ thím Mai xếp bánh pha trà. Nhìn bé Chánh thoải mái tự nhiên như người trong gia đình, ông Quý chân tình nói:
- Em xin phép được đề nghị với anh như thế này. Anh cho em đi theo với cháu Chánh về thăm quê nhà để biết bà con hàng thân quyến. Gia đình tụi em cũng đơn chiếc chỉ có một đứa cháu trai Quốc. Chánh cũng như đứa con thứ hai của tụi em.
- Cảm ơn cô chú nhiều! Tôi…
- Em cũng thưa với anh là tụi em định bán hai căn nhà để dọn về Tuy Hoà sinh sống. Các cháu cần phải học hành để có tương lai sau này.
Ông Lại tỏ vẻ sung sướng đưa ly bia uống cùng ông Quý. Bé Chánh bỏ miếng bánh trên bàn, ngả người vào lòng bà Mai sung sướng. Nhìn vào ánh mắt, ông hiểu cháu muốn nói gì. Bà Mai đưa tay âu yếm vuốt tóc thằng bé.
- Thằng Quốc nhà em hợp tính với cháu Chánh. Cứ vắng mặt thằng này thì đứa kia hỏi. Hai đứa nó giống như chú Lành với ông xã của em.
- Gia đình anh thành thật mang ơn cô chú nhiều.
Cuộc chuyện trò kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Đến lúc từ giã, bé Chánh đã lăn đùng ngủ trên giường. Ông sung sướng bế đứa cháu về nhà trong trăng đêm rọi sáng lối đi. Xa xa dòng sông lấp lánh ánh trăng vàng, sóng dập dềnh ru xóm Lá ngủ say.
Sáng sớm ngày hôm sau, ông Lại vừa mở mắt thấy thằng cháu đang ngồi bên cạnh hai mái chèo. Bé loay hoay thắt sợi dây chỉ đỏ vào con chim bằng sợi dừa, quàng vào cổ đeo trước ngực. Nghe ông bác trở mình, bé mò lại ngồi bên cạnh giường mỉm cười. Ông dắt đứa cháu ra sân sau làm vệ sinh cá nhân.
Ông kéo lật ngược chiếc ghe nhỏ sau vườn, lau chùi và kiểm tra kỹ lưỡng rồi vác cái ghe bỏ ở trước nhà. Chánh hiểu bác như ý cha, mau mắn chạy vào nhà khiêng hai mái chèo và một cái cần câu đưa cho ông bác. Khi ông hỏi đường nào đi ra hướng mé sông, thằng bé trố mắt sợ hãi tỏ vẻ không muốn đi ra ngoài đó. Ông bác giả lơ, tiếp tục sai cháu cầm cái cần câu còn ông đội cái ghé nhỏ và tay cầm cặp mái chèo. Lúc đó ông Quý vừa đến nhà, mang theo ba ổ bánh mì thịt nóng hổi và một ly cà phê sữa nóng cho ông Lại. Cả ba cười nói rộn ràng sung sướng trên đường đi về hướng mé sông. Bọn trẻ trong xóm nhốn nháo chạy theo sau, không đứa nào dám chọc ghẹo. Chánh thân mật ngừng lại chia hai phong kẹo cao su cho lũ bạn. Người trong xóm chưa bao giờ thấy bé Chánh sung sướng như hôm nay. Cái phong thái bình dị của ông Lại, không ai tin rằng ông từ Mỹ trở về, niềm nở chào hỏi thân mật trên đường ra ven sông.
Bình minh vừa ló dạng ở chân trời và mặt sông lặng im như tờ. Mái chèo nhẹ khua động làm lấp lánh ánh nắng ban mai. Trong chớp nhoáng chiếc ghe đã giữa dòng sông, cả ba cười nói huyên thuyên, chẳng buồn thả cần câu. Bé Chánh móc trong túi ra ba viên bi thả vào lòng sông. Dường như tâm hồn bé đã được nhẹ nhàng. Bé nằm dài vào lòng ông Quý, thả hai chân lên thành ghe mấp máy nước. Bé tiếp tục nghe người lớn kể chuyện quê nhà thuở xa xưa, những năm tháng ở xóm Lá, những kỳ vượt biên thất bại. Trong giấc mơ cuộc đời mới, bé ngủ say sưa trong lòng người ba nuôi. Ông Lại cởi áo phủ che nắng cho Chánh, rồi cầm lại mái chèo từ từ đưa ghe đi một vòng trên sông để tìm làn gió mát cho đứa cháu đang ngủ say.
Khi trở về, ông bác mình trần trắng trẻo vác ghe và mang mái chèo đi trước, còn ông Quý bế bé Chánh đang ngủ trên tay. Nhìn tướng ông anh đội ghe đi giống y chang Lành, ông Quý tủm tỉm cười thầm kín.
Trên tay ông Quý bế đứa bé tuy không là ruột thịt, nhưng là giọt máu còn lại của người bạn thân yêu. Tình bạn dù có cao thượng đến đâu cũng không thể bù trừ tình cốt nhục thiêng liêng. Nhìn cốt người và dáng vóc của người bác về nhận đứa cháu ruột, ông Quý cảm thấy nguồn gốc thân thế con người không thể nào thay đổi. Ngày hôm qua ông Lại trong dáng vóc của một người văn minh xa lạ, nhưng hôm nay ông ít nhiều trong cốt cách của một người chân lấm tay bùn xa xưa. Có phải chăng chỉ có quê nhà và tình thân tộc là mạch sống vĩnh cửu của con người, luôn bao dung rộng mở bàn tay đón nhận người xa xứ được về sống lại đường xưa lối cũ.
Trên đầu ông Lại vác đội một cái thuyền nan và một cặp mái chèo. Ông có thể hãnh diện được sống lại với những nguồn vui mộc mạc đơn sơ ở quê hương. Mọi người kính trọng vào việc làm của ông – Đi tìm đứa cháu về gần gũi với gia tộc. Nhưng không ai có thể hiểu một mối lo âu hổ thẹn trong tấm lòng ông – Đứa con ruột duy nhất của ông là Steven Lee, tự đổi tên đổi họ vào lúc 18 tuổi. Hắn chưa bao giờ được ông nhắc tới trong khu xóm Lá bên sông.
Bài Thơ Dang Dở
Sáng tác: Trần Cường
Nghệ Sỉ: Đoàn Thùy Dương
Thực hiện: Kim Bồng
Nghệ Sỉ: Đoàn Thùy Dương
Thực hiện: Kim Bồng
Ta chia nhau một bài thơ dang dở
cảm thông nhau phận duyên nợ trả vay
thế mới hiểu, xa nhau xao xuyến quá
trái tim yêu, nay nửa khóc nửa cười
giữa hai đứa, còn nhiều điều chưa nói
nửa dấu che, nửa lời tỏ tiếc thương
cố niú kéo, dằng co cái thuở ấy
nên miên man thơ lạc điệu ngại ngần
nén lòng chỉ chia đôi vần bỡ ngỡ
đã lỡ làng, lửa tình cũng tàn phai
cam lòng nhé, ôm vần thơ còn lại
hai giòng đời, một dang dở chia xa
(Nov. 2004)
Sunday, June 22, 2014
Bốn Mươi Năm Sau
“Dẫu
bạn có phải đi về một chân trời góc biển, xin đừng quên mang theo những tình bạn
thân thiết của thời niên thiếu“. Rất tiếc tôi không nhớ nguồn gốc của câu nói ấy.
Bạn
bè tôi trong thời niên thiếu cũng khá nhiều, nhưng cùng thời gian chúng tôi dần
dà lưu lạc xa nhau, vì gia đình chuyển dọn về các thành phố khác, vì chiến
tranh, vì quân vụ, hay vì tuổi tác khác biệt lúc trưởng thành. Tôi cũng có những
đứa bạn hy sinh vì trận chiến khốc liệt ở quê nhà như Mỹ, Phi, Tâm, Thành,
Hùng, Huy, Qúy, v.v… Những đứa may mắn đi du học nước ngoài như Đông Ba, Long,
và Huy, nhưng cũng biệt tăm luôn. Tuy nhiên, trong đời tôi có một may mắn là
còn ba đưá bạn nối khố rất thân. Thân nhau đến độ chúng tôi không bao giờ để ý
về trình độ, cao hèn, giàu nghèo, không đua đòi, tranh đua, kiểu cách. Bốn đứa
đều rất thoải mái không ngượng ngập và săn đón màu mè. Sau bao lần về Việt Nam thăm gia
đình, tôi vẫn cảm thấy thoải mái và không cách biệt gì với các người bạn thân
yêu qúi. Riêng tôi đau xót khi thấy gia đình các bạn ở quê nhà thật là đáng
thương.
Chúng
tôi quen nhau từ trường trung Học Kỹ Thuật, thuở gia đình của mỗi đứa không thật
giàu và cũng không nghèo. Chúng tôi cũng có nhiều sự khác biệt về sở thích, sở
trường, nhưng chúng tôi từng đi chơi chung, tán gái chung, sinh họat chung, học
chung, ngủ chung và luôn giúp đỡ nhau. Bốn thằng chỉ to họng lớn tiếng, chứ
nhút nhát như khỉ khô. Trong chúng tôi, hai đứa là dân Bình Định, một đứa gốc
Huế, còn tôi thì gốc Bắc. Sống, lớn lên từ miền ‘dân nẫu’ nên ảnh hưởng ít nhiều
cái chất phát, thật thà và tặn tiện của dân Trung phần. Chỉ có tôi bôn ba nhiều
nơi, nên có nhiều thay đổi.
Phan
Tuân biệt hiệu là “Tuân Mỹ đen” vì hắn đen mà tóc ngắn quắn tít lại, nói chuyện
rất liến thoắng. Công Thành mang cái tên là “Thành hô”, vì miệng hắn hô cứ mỗi
lần hắn cười là chỉ thấy răng, hắn rất nhiều kiến thức phổ thông. Phùng Thọ mệnh
danh là “Thọ tóc láng” vì cái đầu lép lúc nào cũng chải bóng láng u, trong túi
quần lúc nào cũng có một cái lược và khăn tay. Còn tôi, Gia Trí, thì được gán
cho một biệt hiệu trứ danh “Gia Bò”, cũng cái tên này theo tôi đến khi đi dạy.
Bốn đứa đều mất cha sớm, nên chúng tôi rất yêu thương người Mẹ. Ngay cả khi tôi
tha hương xứ người, chúng vẫn thăm viếng thường xuyên, ngày Xuân kéo nhau đến
chúc Tết các bà Mẹ.
“Tuân
Mỹ đen” lớn tuổi và học giỏi nhất đám. Hắn lớn lên trong xóm nghèo ven biển,
bên hai đứa em và người Mẹ hiền lành ít nói. Gia đình sống rất giản dị trong
nghề làm giá. Sau 1975, Tuân được đoàn tụ với người cha tập kết cao cấp, nhưng
cha con không hợp nhau về quan điểm chính trị. Vì kính trọng cha, hắn lấy một
cô vợ cán bộ, nhưng sau đó ly dị nhau vì không hợp quan điểm đời sống. Cuối
cùng hắn cũng định cư ở Mỹ, sống hạnh phúc với người vợ thứ hai và hai người
con trai. “Thành hô” bị cha bỏ rơi bên đàn em nhỏ nheo nhóc và người mẹ bất hạnh.
Thành hô và Tuân luôn đứng nhất nhì trong lớp, nhưng sau năm lớp 12 vì không đủ
tiền vào Sài Gòn để đi học, quyết định đăng ký vào Sĩ quan Hải Quân. Thành là
người hay cãi nhất nhưng lý luận của hắn rất vui nên không ai chấp nhất. Hắn xấu
trai nhưng lại lấy cô vợ trẻ đẹp, do đó nó cũng khốn khổ vì phải chiều chuộng
làm vui lòng cô vợ trẻ. Thành sống rất chí tình và son sắt. Mặc dù nghèo nhất
trong đám, nhưng rất trượng phu gánh vác cả hai gia đình bên vợ và bên chồng trong
mấy năm qua. “Thọ tóc láng” nhỏ tuổi nhưng cao to, lúc nào cũng ta đây bảnh
trai nhất trong đám. Hắn chơi bida và thể thao rất hay nhưng học dở nhất đám.
Thọ vượt biên thành công, nay định cư tại Úc Châu. Nghe nói Thọ có vài chiếc xe
taxi để chạy rất khá; tình duyên lắm lận đận, nhưng con cái học hành giỏi giang
thành công. Anh chàng này thì ai sao tui dzậy, chính hắn là mối nối vô tư lợi
trong bốn đứa chúng tôi. “Trí Gia bò” thì lúc ấy cà lăm rất dữ. Nóng nảy, trực
tính, mặc cảm cà lăm nên nhút nhát nhưng lại nghịch ngầm. Tôi có khiếu hát, làm
báo, vẽ vời, nghệ thuật do đó được bạn bè dễ cho nhập hội sinh hoạt. Chính nhóm
bạn này lôi kéo tôi trong việc học, nhất là tự học từ năm lớp đệ tứ trở đi. Tôi
vẫn là đứa có nhiều may mắn, được vào đại học, vượt biên an toàn, mau chóng ổn
định ở Mỹ.
Dòng
đời cứ trôi, thắm thoát chúng tôi xa nhau hơn bốn mươi năm. Đôi lúc nhớ nhau chỉ
tủm tỉm trong thoáng chốc. Có dịp về nước gặp nhau thì vài chai bia và nhắc nhở
dăm ba câu chuyện cũ cười lăn lộn lên. Lúc xa nhau thì quyến luyến tiễn đưa đến
tận phi trường, cho nhau điện thoại, email, và địa chỉ. Nhưng mỗi đứa lại quay
về vơi đời sống hiện tại, tất bật với điều kiện sinh sống của gia đình. Rồi chẳng
có đưá nào liên lạc, chẳng biết chúng nó lúc này ra sao. Nhưng mỗi mùa Xuân về,
tôi biết chắc là chúng nó sẽ ghé thăm Mẹ tôi, vẫn bác cháu như thuở nào và nhắc
thằng Trí ở phương xa. Tình bạn chúng tôi lớn lên trong trắng và chân thành.
Không bao giờ có buồn phiền, giận hờn, nghi kỵ, tính toán với nhau. Không có
chuyện gì mà chúng tôi che dấu. Không vừa ý là đùa rằng chú mầy nói phét. Không
bằng lòng là mắng tiên sư chú mầy. Không có tiền thì ở nhà lấy bánh tráng nhúng
nước chấm nước xì dầu ớt thật cay. Không có chuyện gì làm chúng tôi vội vã.
Không có chuyện gì dể chúng tôi ân hận với nhau. Không có chuyện gì phải rào
đón trước sau, xưng hô mầy tao thoải mái.
Bốn
mươi mấy năm qua, cuộc đời mỗi đưá đã bôn ba trải qua biết bao nhiêu sóng gió.
Đứa nào cũng dày dặn, chút ít thay đổi mái tóc điểm sương. Những tình bạn chân
phương và tấm lòng hoàn hảo đó vẫn êm dịu sống trong tôi ở cái tuổi năm mươi mấy.
Ở tha hương xứ người, ý nghĩa của tình bạn cũng được vun trồng và nẩy nở trong
một nhóm bạn thân tình khác, nhưng tôi vẫn không quên những người bạn nối khố,
những kỷ niệm của thời niên thiếu của tôi.
Cúi hôn mảnh đất
đầu tiên
Đời nghèo có khổ
có ta bây giờ
(Bốn
Mươi Năm Sau - Trần Cường, Dec
30, 2004) Revised on 042107
Subscribe to:
Comments (Atom)








